Thứ Năm, 10 tháng 11, 2011

THUỐC QUÝ

Angelica - Thực phẩm hỗ trợ điều trị tiền mãn kinh

Angelica :Giúp bổ huyết, tăng cường lưu thông máu. Cải thiện tuần hoàn não, nhức đầu, chóng mặt. Giảm các triệu chứng thời kỳ tiền mãn kinh và mãn kinh. Hạn chế nếp nhăn, giúp da mềm và mịn hơn

Liên hệ để biết giá









 1/. Thành phần:
   Cao thăng ma (Triterpene glycoside):...............56 mg
   Cao đương quy (Ligustilide, Ferulic acid):.....100 mg
   Cao cam thảo (Glycyrrhetinic acid):...................50 mg
   Cao bạch quả (Ginkgo flavone glycoside):.....100 mg
   Rotundin:.................................................................6 mg
   Vitamin E:...............................................................6 mg
   CaCO3:.................................................................60 mg
2/. Công dụng:
   -  Giúp bổ huyết tăng, cường lưu thông máu;
   -  Cải thiện tuần hoàn não, nhức đầu, chóng mặt;
   -  Giúp giảm một số triệu chứng của thời kỳ tiền mãn kinh và mãn kinh;
   -  Hạn chế nếp nhăn, giúp da mềm và mịn hơn.
3/. Đối tượng sử dụng:
   - Phụ nữ suy nhược thần kinh, thiểu năng tuần hoàn não,
   - Phụ nữ tiền mãn kinh và mãn kinh.
4/. Cách  dùng: Ngày 2 - 3 lần, mỗi lần 1 viên, uống trước khi ăn.
5/. Đóng gói: 100 viên nang/1hộp
6/. Bảo quản: Để nơi khô mát, tránh ánh sáng trực tiếp
7/. Thông tin về thành phần:
      Thử nghiệm lâm sàng về tác dụng của các hoạt chất chiết xuất từ Thăng ma đối với các triệu chứng tiền mãn kinh đã mang lại nhiều kết quả tích cực: hai nghiên cứu gần đây cho thấy nó có hiệu quả cao trong việc chống lại triệu chứng khó chịu ở thời kỳ tiền mãn kinh và có tác dụng bảo vệ xương. Nhiều nghiên cứu cho thấy chiết xuất A. racemosa từ Thăng ma có thể giúp kiểm soát vấn đề tâm lý thất thường trong giai đoạn tiền mãn kinh. (Bộ môn sản phụ khoa, Đại học Georg-August  Göttingen, Robert-Koch-Strasse 40, D-37075 Göttingen, Đức).
      Những thử nghiệm điều trị cho hơn 1000 phụ nữ để kiểm tra tác dụng của rễ cây Thăng ma trong điều trị các triệu chứng của mãn kinh, cho thấy nó đã cải thiện tốt một số triệu chứng như bốc hỏa, vã mồ hôi đêm, đau đầu, tim đập nhanh, teo âm đạo (mỏng mô âm đạo). Một công trình nghiên cứu đã chứng tỏ Thăng ma có tác dụng giống hormon nữ, có tác dụng giảm các triệu chứng liên quan đến mãn kinh. (Bộ môn điều trị và nội tiết thực nghiệm, Đại học Georg-August  Göttingen, Robert-Koch-Strasse 40, D-37075 Göttingen, Đức).
      Một số nghiên cứu khoa học cho thấy Rễ cây Đương quy (Angelica sinensis) có tác dụng làm giảm các rối loạn kinh nguyệt như co rút, chu kỳ kinh nguyệt không đều, thời gian kinh nguyệt ít, hội chứng thời kỳ tiền mãn kinh, và các triệu chứng mãn kinh. Đương quy chứa các hợp chất giúp giảm đau, giãn mạch máu, kích thích và làm giãn cơ tử cung. (Steven D. Ehrlich, NMD, Thực nghiệm tư nhân chuyên về bổ sung và thuốc thay thế - Trung tâm y tế - Đại học Maryland).
      Cam thảo có tác dụng giống estrogen, nên nó rất có ích cho người mãn kinh. Cam thảo được sử dụng trong điều trị một số bệnh như chứng viêm khớp, hen suyễn, nấm chân, rụng tóc, mùi cơ thể, viêm nang, loét miệng, mệt mỏi kinh niên, suy nhược, cảm lạnh và cúm, ho, gàu da đầu, khí thũng, nhiễm nấm, viêm lợi và thối răng, gút, chứng ợ nóng, HIV, các vấn đề về gan, các bệnh lyme, mãn kinh, phì đại tiền liệt tuyến, bệnh vẩy nến, bệnh zona, đau họng, viêm sưng các gân cơ, bệnh nhiễm khuẩn, ung nhọt, nhiễm vi rút và nhiễm nấm. (Mary, Joy; Rễ cây Cam thảo có tác dụng đối với mãn kinh, loại bỏ ung nhọt và điều trị bệnh tật - 9/10/2008 – Tạp chí EzineArticles.com).
      Cao bạch quả hữu ích đối với nữ giới do nó làm tăng mức estrogen trong cơ thể. Mức estrogen trong quá trình mãn kinh giảm chính là lý do tạo ra hàng loạt các hội chứng gây khó chịu, đặc biệt liên quan tới trí nhớ. Cao bạch quả chứa các estrogen thực vật, với cấu trúc hoá học tương tự estrogen tự nhiên trong cơ thể do đó nó thay thế được các hormon ở người.
Cao bạch quả giúp phụ nữ giảm các triệu chứng của mãn kinh: Chứng loãng xương; Chứng ù tai; Chứng khập khiễng cách hồi; Tính khí thất thường; Mất sinh lực; Rối loạn giấc ngủ; Dấu vết của lão hoá.
     Tác dụng dược lý của rotundin đã được nghiên cứu trong nước ta (Revue médicochirurgicale francaise d’Extrême-orient, 4-1944, 430-433) tại Liên Xô cũ (Dược lý học và độc chất học, 3-1961), Rumani (1963) và Trung Quốc (Dược học thông báo, 1965). Sau đây là một số kết quả: Rotudin rất ít độc; Tác dụng trấn kinh rõ rệt trên nhu động vị tràng; Tác dụng điều hòa đối với tim và bổ tim nhẹ; Còn có tác dụng điều hòa hô hấp có thể dùng chữa hen hay chữa nấc; E. A. Trutêva (Liên Xô cũ, 1961) còn chứng minh tác dụng an thần, gây ngủ và chống co quắp, hạ huyết áp (Giáo sư Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nhà xuất bản Y học, Năm 2006, Trang 779-782).
      Vitamin E có nhiều dạng: như alpha-, beta-, gamma-, và delta-tocopherol. Nghiên cứu đầu tiên là delta-tocopherol, nhưng một số khảo sát cho thấy gamma-tocopherol tỏ ra rất quan trọng. Những chất này đều có tác dụng chống ô xi hoá, và chống lão hoá, có tác dụng ngăn chặn ung thư và bệnh tim mạch, hỗ trợ hệ miễn dịch, thúc đẩy hồi phục tế bào. Cải thiện hệ tuần hoàn, điều trị rối loạn tiêu hoá, giảm huyết áp, làm lành nhanh vết thương, giảm sẹo, và giảm chứng co rút chân. (Michael Janson; Sử dụng phương pháp chữa bệnh chống lão hoá - Trung tâm y học dự phòng, Amherst, NH, USA; Atlantic Wellness Center, New Smyrna Beach, FL, Mỹ).
      Vitamin E bảo vệ da khỏi tác hại của ánh nắng  mặt trời. Vitamin E cũng giúp giữ cho da mịn và mềm hơn nhờ giữ độ ẩm bên trong da, làm giảm nứt da, giảm nếp nhăn sâu, và làm giảm khoảng cách giữa các nếp nhăn. Một số nghiên cứu cho thấy Vitamin E là dưỡng chất đang được quan tâm dùng để cải thiện độ ẩm da bằng cách bù đắp sự khô da gây ra bởi quá trình lão hoá và các yếu tố môi trường.
Sản phẩm cùng loại
Miss bee capsule-Vẻ đẹp lan toả từ bên trong

Thứ Ba, 8 tháng 11, 2011

ĂN UỐNG HỢP LÝ

5 nguyên tắc ăn uống để có sức khoẻ tốt

08/11/2011 07:26:08
- Ăn uốngnhu cầu tất yếu của con người, nhưng ănm sao để không béo quá, lượng mỡ trong máu không cao cũng không thấp, ăn uốngsao cho sức khoẻ tốt mớicái mà mọi người quan tâm. Sau đây5 chú ý trong ăn uống để có sức khoẻ tốt.

Một:
Mỗi ngày uống một bịch sữa 100 - 200ml. Truyền thống ẩm thực của người Á đông chúng ta có nhiều ưu điểm, nhưng mắc một nhược điểm lớnthiếu canxi. Có đến 99% người già thiếu canxi dẫn đến đau mỏi xương, càng già càng lùn thấp, dễ gãy xương... Cách tốt nhất để khắc phục tình trạng nàytrước khi đi ngủ uống một bịch sữa, nếu không quen sữaơi thì uống sữa đậu nành, nhưng lượng canxi trong sữa đậu nành chỉ bằng 1/2 trong sữa bò.
 
a
Mỗi ngày chỉ ăn hạn chế hai lạng (200g) chất bột. Đâyphương pháp tốt nhất để giảm béo bệu, giảm các bệnh về tim mạch.

Hai:
Mỗi ngày chỉ ăn hạn chế hai lạng (200g) chất bột. Đâyphương pháp tốt nhất để giảm béo bệu, giảm các bệnh về tim mạch. Chúng ta muốn giảm cân thì trước bữa ăn nên uống canh hoặc ăn súp trước. Bởi lẽ, do phản xạ của cầu não khiến giảm khoảng 25% mức muốn ăn bình thường, tốc độ ăn chậm lại sẽ giảm độ căng của dạ dày.

Ba:
Chỉ nên ăn 1/3 lượng thịt và trứng ăn muốn đưa vào cơ thể. Không ăn thịt và trứng thì không tốt, nhưng ăn thoải mái thì rất có hại cho người cao tuổi. Cáthức ăn rất tốt cho người cao tuổi, đặc biệt đối với nữ giới. Ngoài cá, nên dùng nhiều đậu nành (đậuơng) để thay thế bớt trứng và thịt.

Bốn:
Bớt ngọt, bớt mặn, nên ăn cơm gạo lứt, ngô bung, khoai lang luộc. Mỗi tuần ăn một, hai bữa cháo. Chế độ ăn 70 - 80%tốt  nhất, tứcđặt bát xuống khi vẫn còn muốn ăn thêm.

Năm:
Mỗi ngày ăn khoảng năm lạng (500g) rau xanh và quả chín. Chúng ta nên ăn khoảng 4 lạng rau xanh và 1 lạng quả chín. Ăn nhiều rau quảơi có thể giảm được 50% bệnh ung thư.

ThS.BS Phan Hướng Dương

(Bệnh viện Nội Tiết)

Thứ Hai, 7 tháng 11, 2011

CHÈ VẰNG


Chè vằng – món quà ý nghĩa nhất cho người mới sinh con

Ngoài chè xanh, chè vối truyền thống, , người dân miền trung, đặc biệt vùng Nghệ An, HàTĩnh còn hay uống chè Vằng.
Cây chè Vằng mọc ở dãy núi Hồng Lĩnh, nhiều nhất là núi Mồng Gà. Cây chè Vằng là loại cây dây leo, bám quanh những bụi gai rậm rạp trên một độ cao nhất định, uống sương và dưỡng khí trong lành, quanh năm lá xanh. và không chịu t ác động của con người như bón phân, phun thuốc.
Cây chè Vằng lấy về đem băm nhỏ khoảng 7 – 8 cm, phơi nắng, phơi sương đến khi khô nỏ, có thể cất giữ bao lâu cũng không mốc, dành uống dần. Cách nấu như nấu nước chè xanh, nhưng khác với chè xanh là được nước, không thiu. Chè Vằng đun lại ba lần, uống vẫn đậm, không mang tiếng vô duyên như chè xanh – “chè hâm lại, gái ngủ trưa”. Nước chè Vằng thoạt uống có vị đắng, sau thấm ngọt. Trong nắng lửa miền trung, khi đi làm đồng về, mồ hôi đầm đìa lưng áo, chỉ cần uống một bát nước chè Vằng là cơn khát tiêu tan, toàn thân mát mẻ, sảng khoái.
Cây chè Vằng có giá trị như cây thuốc nam, uống tiêu độc, giảm béo. Nó cũng rất phù hợp với những phụ nữ mới đẻ nhờ tính mát và lành giúp cho người mẹ thêm nhiều sữa. Nhiều gia đình ở Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh ngày nay đang coi chè vằng là món quà quý, đậm đà vị quê và để giảm béo, tiêu độc, kích thích tiêu hóa trong mùa hè và giữ ấm cho mùa đông giá lạnh. Ngày nay, chè Vằng được chế biến thành những túi nhỏ và đóng gói, rất tiện lợi cho người sử dụng. Nhờ đó, chè Vằng được xem là một loại chè quý hiếm và rất lợi cho sức khoẻ con người.
* *
*
Danh pháp khoa học: Jasminum subtriplinerveBlume, thuộc họ nhài Oleaceae, còn gọi là chè vằng, chè cước man, cẩm văn, dây vắng, mỏ sẻ, mỏ quạ, râm trắng, râm ri, lài ba gân, là một loại cây bụi nhỏ mọc hoang. Có 3 loại vằng, vằng lá nhỏ (vằng sẻ) dùng tốt hơn cả, vằng lá to (vằng trâu) cũng được dùng, còn vằng núi không dùng làm thuốc.
Cây chè vằng mọc hoang ở khắp nơi, mọc thành bụi hoặc bám vào các thân cây lớn hơn, đặc biệt nhiều ở vùng đồi núi cao, là loại cây bụi nhỏ, đường kính thân không quá 6mm. Thân cứng, từng đốt vươn dài hàng chục mét, phân nhánh nhiều. Vỏ thân nhẵn màu xanh lục. Lá mọc đối hơi hình mác, phía cuống tròn, mũi nhọn, có ba gân chính nổi rõ ở mặt trên, mép nguyên, càng lên ngọn cành lá càng nhỏ. Lá chè vằng có 3 gân dọc trong đó 2 gân bên uốn cong theo mép lá, rõ rệt. Hoa chè vằng mọc thành xim nhiều hoa (chừng 7-9 hoa), cánh hoa màu trắng thường nở vào tháng 3 đến tháng 5 hàng năm. Quả chè vằng hình cầu cỡ hạt ngô, chín màu vàng, có một hạt rắn chắc.
Nghiên cứu dược lý chứng minh lá chè vằng có chứa terpenoit, glycosit đắng, flavonoit, nhựa và ancaloit có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm, làm tăng nhanh tái tạo tổ chức, làm mau lành vết thương, thông huyết, điều kinh, đau bụng, hay điều trị đau khớp xương, thiếu máu, mệt mỏi, kém ăn, cảm hay vàng da. Theo một nghiên cứu của bệnh viện Thái Bình, cây Chè Vằng với một liều lượng nhất định có tác dụng kháng khuẩn mạnh hơn một số kháng sinh đối với tụ cầu khuẩn. Đặc biệt, Trường Đại học Dược Hà Nội cũng có đề tài nghiên cứu về tác dụng chống nhiễm khuẩn của cây Chè Vằng. Nghiên cứu này được áp dụng điều trị ở 254 sản phụ và cho nhiều kết quả đáng chú ý. Ví dụ như không dùng thuốc kháng sinh mà chỉ dùng chè Vằng tròng trường hợp đẻ thường, giảm 50% thuốc kháng sinh trong trường hợp đẻ khó. Người ta cũng hy vọng rằng cây Chè Vằng sẽ được ứng dụng rộng rãi trong sản khoa để giúp chống nhiễm khuẩn và giúp sản phụ sớm hồi phục sức khỏe, giúp kích thích tiêu hóa, ăn ngon miệng.
Từ lâu, nhân dân ta đã biết được tác dụng của lá Vằng và đã hái lá phơi khô sắc nước uống dùng cho phụ nữ sau khi sinh và người già. Theo kinh nghiệm Dân gian ở một số vùng, lá vằng tươi nấu nước gội đầu sẽ làm mịn tóc và chữa được nấm tóc.
Có một số vùng người ta đã sử dụng lá vằng làm nước uống hằng ngày cho gia đình mình nhằm kích thích tiêu hóa, ăn ngon miệng, ngủ ngon. Một phần đây là loại thực phẩm bổ đắng uống ngon, với mùi thơm và vị đắng nhưng lại ngọt đặc trưng phù hợp với sở thích đa số người dân nông thôn và sẵn có ở một số địa phương nên rất kinh tế khi sử dụng.
Trích: http://www.lavavietnam.com/tin-chi-tiet/cay-che-vang/14.html